Cấu hình UniDirectional Link Detection (UDLD)
Thứ ba, 09 Tháng 6 2009 18:17
Trong bài viết này sẽ giới thiệu đến các bạn phương pháp để cấu hình giao thức UniDirectional Link Detection (UDLD) trên Catalyst 3560 Switch.

Những phần sau sẽ là nội dung của bài viết này:
+ Phần I: Tìm hiểu UDLD
+ Phần II: Cấu hình UDLD
+ Phần III: Hiển thị trạng thái của UDLD
Phần I - Tìm hiểu UDLD.
1. Tìm hiểu UDLD
UDLD là một giao thức hoạt động ở Layer 2-Data Link trong mô hình OSI, cho phép những thiết bị kết nối trực tiếp thông qua cáp fiber-optic hoặc twisted-pair Ethernet có thể giám sát được phần cấu hình vật lý của những loại cáp đó và xác định được vấn đề về liên kết một hướng đang tồn tại. Tất cả các thiết bị kết nối trực tiếp sẽ phải có khả năng hỗ trợ giao thức UDLD để có thể nhận biết được và disable những liên kết một hướng duy nhất. Khi UDLD xác định được có một liên kết một hướng đang tồn tại, thì giao thức đó sẽ disable port đó đi và đưa ra một thông điệp cảnh báo cho quản trị mạng. Những liên kết một hướng có thể là nguyên nhân của một vài vấn đề, trong đó bao gồm cả việc loop sẽ xảy ra.
2. Các chế độ hoạt động của UDLD
- UDLD có khả năng hỗ trợ hai chế độ hoạt động: normal (chế độ này là mặc định) và aggressive. Trong chế độ hoạt động bình thường, UDLD có thể xác định được những liên kết một hướng nhờ đó nó sẽ disable những port đó trên những kết nối fiber-optic. Trong chế độ aggressive, UDLD cũng có thể xác định được những liên kết một hướng nhờ đó có thể nhận biết được các lưu lượng đang truyền theo một hướng trên những kết nối fiber-optic và twisted-pair và nó sẽ disable những port trên những kết nối fiber-optic.
- Trong chế độ normal và chế độ aggressive, UDLD sẽ làm việc với những kỹ thuật của Layer 1 để học những trạng thái vật lý của một liên kết. Tại layer 1, Quá trình tự động thương lượng sẽ xảy ra để có thể lấy được những tín hiệu vật lý và xác định được lỗi xảy ra. UDLD sẽ thi hành những nhiệm vụ mà quá trình tự động thương lượng không thể làm được, như: xác định các ID của các thiết bị hàng xóm (neighbors) và trạng thái shutting down của các port kết nối. Khi bạn enable cả hai phương pháp: autonegotiation và UDLD, thì quá trình xác định của Layer 1 và Layer 2 sẽ đều làm việc để ngăn cản những kết nối một hướng ở physical và logical.
- Một liên kết một hướng có thể được tìm thấy bất cứ khi nào các lưu lượng được gửi bởi một thiết bị cục bộ và được nhận bởi các thiết bị hàng xóm của nó nhưng những lưu lượng đó lại không được nhận lại khi từ các thiết bị hàng xóm gửi lại.
- Trong chế độ normal, UDLD có khả năng xác định một liên kết một hướng khi quá trình truyền dữ liệu trên cáp quang trong một port fiber-optic bị lỗi và những kỹ thuật của Layer 1 không thể xác định được lỗi này xảy ra. Nếu những port kết nối trực tiếp đang hoạt động tốt nhưng những lưu lượng lại truyền theo một hướng, thì UDLD không thể xác định được liên kết một hướng bởi vì các kỹ thuật của layer 1, không được hỗ trợ để xác định những điều kiện như vậy. Trong trường hợp này, liên kết logical cũng sẽ không thể xác định được, và UDLD sẽ bị disable trên port đó.
- Khi UDLD hoạt động ở chế độ normal, nếu một quá trình truyền dữ liệu trên cáp quang bị hủy và autonegotiation được enable, thì liên kết sẽ không thể hoạt động bởi vì những kỹ thuật của layer 1 không có khả năng xác định được những vấn đề xảy ra với liên kết này. Trong trường hợp này, UDLD sẽ không được hoạt động, và liên kết logical cũng sẽ không được xác định.
- Trong chế độ aggressive, quá trình xác định liên kết một hướng bằng cách sử dụng những phương thức xác định cũ. UDLD hoạt động ở chế độ aggressive cũng có thể xác định một liên kết một hướng trên kết nối point-to-point. Và UDLD cũng có thể xác định được những liên kết một hướng khi một trong các vấn đề sau xảy ra:
+ Trên những liên kết fiber-optic hoặc twisted-pair, một port nào đó không thể gửi hoặc nhận dữ liệu.
+ Trên những liên kết fiber-optic hoặc twisted-pair, một port nào đó bị down trong khi những port khác đang hoạt động bình thường (up).
+ Quá trình truyền dữ liệu trên cáp quang bị lỗi.
- Trong những trường hợp đó, UDLD sẽ bị disable trên những port đó.
3. Các phương thức để xác định liên kết một hướng.
UDLD hoạt động bằng cách sử dụng hai kỹ thuật sau:
- Neghbor database maintenance: giao thức UDLD sẽ cho phép các thiết bị có khả năng học được những thông tin từ những thiết bị hàng xóm bằng cách gửi đi những gói tin hello theo chu kỳ (còn được gọi theo cách khác là gói tin quảng bá) trên tất cả các port đang hoạt động để giữ lại những thông tin về những thiết hàng xóm. Khi một switch nhận được một gói tin hello, thì switch đó sẽ lưu lại những thông tin đó cho đến khi thời gian hold time bị hết. Nếu switch nhận một gói tin hello mới trước khi mà thời gian hold time bị hết thì switch sẽ thay thế những thông tin của gói hello mới này vào trong bộ đệm. Bất cứ khi nào một port bị disable và UDLD đang chạy, bất cứ khi nào UDLD bị disble trên một port, hoặc bất cứ khi nào switch khởi động lại, thì UDLD sẽ xóa bỏ tất cả những thông tin đang được lưu trong bộ đệm. UDLD sẽ gửi ít nhất một thông điệp đến các thiết bị hàng xóm để xóa bỏ những thông tin đó ra khỏi bộ nhớ đệm. Và những thông điệp đó luôn được mong đợi để thực hiện đồng bộ bộ nhớ đệm.
- Event-driven detection and echoing: UDLD sẽ trả lời những yêu cầu nhờ vào những kỹ thuật xác định. Bất cứ khi nào một thiết bị chạy UDLD học được thông tin từ một thiết bị hàng xóm mới hoặc nhận một yêu cầu để đồng bộ từ một hàng xóm, thì nó sẽ khởi động cửa sổ xác định trên kết nối của nó và gửi một thông điệp echo reply. Bởi vì tất cả các thiết bị hàng xóm chạy cùng một loại UDLD, nên thiết bị gửi sẽ không trả lại các gói tin echo reply. Nếu một cửa sổ xác định kết thúc và không có thông điệp trả lại nào được nhận, thì liên kết đó sẽ bị shutdown, và nó còn phụ thuộc vào chế độ hoạt động của UDLD. Khi UDLD hoạt động ở chế độ normal, thì liên kết sẽ không thể xác định được và ở trạng thái shutdown. Khi UDLD hoạt động ở chế độ aggressive, thì liên kết đó có thể được xác định là một hướng, và port đó sẽ bị disable.
- Nếu UDLD hoạt động ở chế độ normal trong khi quảng bá hoặc trong giai đoạn xác nhận và tất cả thông tin trong bộ nhớ đệm của các thiết bị hàng xóm đã hết thời gian holdtime, thì UDLD sẽ khởi động lại chuỗi link-up để đồng bộ những thông tin trong bộ nhớ đệm với những thiết bị hàng xóm.
- Nếu bạn enable UDLD hoạt động ở chế độ aggressive khi tất cả các thiết bị hàng xóm của một port nào đó có thời gian holdtime bị hết trong quá trình quảng bá hoặc trong quá trình xác định, thì UDLD sẽ khởi động lại chuỗi link-up để thực hiện đồng bộ với các thiết bị hàng xóm. UDLD sẽ shutdown port đó.
Phần II: Cấu hình UDLD
Trong phần cấu hình sẽ bao gồm các chủ đề sau:
- Cấu hình UDLD mặc định
- Cấu hình UDLD theo hướng dẫn
- Enable UDLD ở chế độ global
- Enable UDLD trên một interface
- Khởi động lại một interface đã bị disable bởi UDLD.
1. Cấu hình UDLD mặc định.
Bảng 1.1 hiển thị các thông số cấu hình mặc định của UDLD.
Bảng 1.1
2. Cấu hình UDLD theo hướng dẫn.
Khi cấu hình UDLD các bạn có thể cấu hình theo những chỉ dẫn dưới đây:
- UDLD không có khả năng hỗ trợ các ATM port.
- Một port UDLD không thể xác định được một liên kết một hướng nếu port của switch khác đang kết nối đến port đó không hoạt động hoặc đang disable UDLD.
- Khi hai switch đang kết nối trực tiếp với nhau, thì bạn sẽ phải cấu hình UDLD hoạt động cùng một chế độ trên cả hai switch này (normal hoặc aggressive).
3. Enable UDLD ở chế độ global.
- Bắt đầu ở chế độ Privileged EXEC, bạn có thể thực hiện những bước sau để enable UDLD hoạt động ở chế độ aggressive hoặc normal.
Ví dụ:
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# configure terminal
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN(config)# udld aggressive message time 50
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN(config)# end
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# show udld
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# copy run start
- Để disable UDLD ở chế độ global, sử dụng câu lệnh: no udld enable ở chế độ gloabl configuration để disable UDLD hoạt động ở chế normal. Sử dụng câu lệnh: no udld aggreesive ở chế độ global configutaoin để disable UDLD hoạt động ở chế độ aggressive.
4. Enable UDLD trên một interface.
- Bắt đầu cấu hình từ chế độ Privileged EXEC của switch, những bước sau cần phải được thực hiện để enable UDLD hoạt động với mode normal hoặc mode aggressive ở trên một interface.
Ví dụ:
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# configure terminal
Swtich_3560_ITNEWS.COM.VN(config)# interface gigabitethernet 0/2
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN(config-if)# udld port aggressive
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN(config-if)# end
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# show udld gi0/2
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# copy run start
5. Khởi động lại một interface đã bị disable bởi UDLD.
- Bắt đầu từ chế độ Privileged EXEC của switch, những bước sau sẽ được yêu cầu để thực hiện việc khởi động lại tất cả những port đã bị disable bởi UDLD:
Ví dụ:
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# configure terminal
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN(config)# udld reset
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# show udld
Phần III - Hiển thị trạng thái của UDLD
- Để hiện thị trạng thái của UDLD trên một port hoặc trên tất cả các port của switch, sử dụng câu lệnh: show udld [interface-id] ở chế độ Privileged EXEC.
Ví dụ:
Switch_3560_ITNEWS.COM.VN# show udld gi0/1
Dương Văn Toán

